CAO CÁT BỤNG TRẮNG_ full_0
CAO CÁT BỤNG TRẮNG_0

CAO CÁT BỤNG TRẮNG

Chia sẻ lên share facebook
  • Cao cát thuộc nhóm IIB
  • Bucerotidae (Hồng hoàng)

Tên khoa học: Anthracoceros alvirostris
Tên tiếng Anh: Oriental pied hornbill

Tên tiếng Việt: Cao cát bụng trắng

 

1. Phân loại học

- Giới: Animalia (Động vật)

- Ngành: Chordata (Động vật có dây sống)

- Lớp: Aves (Chim)

- Bộ: Bucerotiformes (Hồng hoàng)

- Họ: Bucerotidae (Hồng hoàng)

- Chi: Anthracoceros

- Loài: Anthracoceros albirostris

Tên khoa học: Anthracoceros alvirostris
Tên tiếng Anh: Oriental pied hornbill

Tên tiếng Việt: Cao cát bụng trắng

 

1. Phân loại học

- Giới: Animalia (Động vật)

- Ngành: Chordata (Động vật có dây sống)

- Lớp: Aves (Chim)

- Bộ: Bucerotiformes (Hồng hoàng)

- Họ: Bucerotidae (Hồng hoàng)

- Chi: Anthracoceros

- Loài: Anthracoceros albirostris

2. Đặc điểm nhận dạng

Cao cát là loài chim có kích thước nhỏ nhất trong số các loài chim thuộc họ Hồng hoàng có phân bố tại Việt Nam, chiều dài cơ thể dao động từ 55 – 60 cm, sải cánh khoảng 80 – 90 cm. Trọng lượng cơ thể khoảng 800 – 900 g

Bộ lông chim chủ yếu màu đen bóng ở lưng, đầu và ngực. Đùi,bụng và rìa đuôi màu trắng. Phần đầu mút của lông cánh màu trắng, sẽ được thấy rõ khi chim bay.

Mủ trên đầu chim cầu tạo bằng keratin cứng. Chim trống có mủ to hơn, màu vàng nhạt hoặc trắng ngà với một đốm đen rõ ở phần đầu mủ. Con mái có kích thước mủ nhỏ hơn, có vẹt đen xám ở phần nửa trước của mỏ.

3. Phân bố trong tự nhiên

Cao cát sống ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á và Nam Á. Người ta thấy hồng hoàng ở các quốc gia như Nepal, Ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia, Malaysia và Indonesia.

Cao cát có khả năng thích nghi tốt, chúng sống ở các khu rừng thường xanh, rừng hỗn hợp, rừng thứ sinh, bìa rừng và các khu vực nông nghiệp, rừng gần khu dân cư.

4. Sinh thái và tập tính

Cao cát hoạt động chủ yếu vào ban ngày. Tiếng kêu khá chói tai, kêu liên tục và lặp lại thành chuỗi âm thanh. Khi bay tiếng vỗ cánh chúng gián đoạn.

Cao cát chỉ bắt cặp vào mùa sinh sản. Ngoài mùa sinh sản chúng là loài chim có tập tính xã hội cao, sống thành đàn nhiều con tại khu vực có nhiều trái cây chín.

Là loài ăn tạp, thức ăn tự nhiên của chúng bao gồm các loại quả mọng và loài vật kích thước nhỏ như côn trùng, thằn lằn, ếch nhái...

5. Sinh sản

Mùa sinh sản thường từ tháng 2 – tháng 6 hàng năm. Chim có tập tính làm tổ đặc biệt. Chúng chọn một hốc cây tự nhiên, chim mái chui vào trong và tự giam mình bằng cách dùng bùn, phân, đất... trộn để trát kín miệng tổ. Miệng tổ chỉ còn là một khe dọc rất nhỏ, vừa đủ để chim mái thò mỏ ra nhận thức ăn và đi vệ sinh ra ngoài.

Trong suốt thời gian này chim mái sẽ thay lông. Chim trống chịu trách nhiệm tìm thức ăn nuôi vợ và con cho đến khi chim non mọc gần đủ lông cánh chim mái mới phá tổ chui ra.

Chim non còn phụ thuộc vào cha mẹ một thời gian trước khi có thể tự kiếm sống, tồn tại độc lập.

Mỗi lứa chúng thường sinh từ 2 – 3 quả trứng. Thời gian ấp trứng khoảng 25 – 30 ngày.

6. Tuổi thọ

Tuổi thọ trung bình trong tự nhiên khoảng 20 – 25 năm. Chúng có thể sống lâu hơn trong điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt.

7. Vai trò sinh thái

Cao cát ăn quả và phát tán hạt đi rất xa do khả năng bay xa của chúng, giúp duy trì, tái tạo hệ sinh thái rừng. Duy trì sự đa dạng thực vật ở rừng.

Chúng cũng giúp kiểm soát sự phát triển quá mức của côn trùng, bò sát, gặm nhấm trong khu vực sinh sống.

8. Nguyên nhân suy giảm số lượng cao cát:

- Mất sinh cảnh do phá rừng, chuyển đổi đất rừng, đô thị hóa nông thôn...

- Săn bắt lấy thịt, mũ làm đồ mỹ nghệ, bắt con non làm cảnh.

- Việc sinh sản khó khăn do đòi hỏi các hốc cây tự nhiên lớn, số lượng trứng ít.

9. Thông tin tại Thảo Cầm Viên

Tại Thảo Cầm Viên hiện tại đang nuôi nhiều cá thể cao cát ở các khu vực chuồng khác nhau. Du khách có thể dễ dàng tìm thấy loài chim này khi đến quan sát tại khu chuồng Chim nhỏ.

z7948355036160_b343a9673c7ef65a6d097a2fd9d6d283