1. Phân loại khoa học
- Giới (Kingdom): Animalia (Động vật)
- Ngành (Phylum): Chordata (Động vật có dây sống)
- Lớp (Class): Mammalia (Thú)
- Bộ (Order): Primates (Linh trưởng)
- Họ (Family): Hominidae (Họ Người - các loài linh trưởng lớn)
- Chi (Genus): Pongo (Đười ươi)
- Loài (Species): Pongo pygmaeus (Đười ươi Borneo)
2. Đặc điểm nhận dạng
Bộ lông dài và thưa, màu nâu đỏ. Sợi lông dày, cứng. Ở đười ươi đực, phần má là hai “túi thịt” rất to, còn gọi là “tấm đệm má”, bạnh ra khiến gương mặt trông như một cái dĩa lớn. Ở con non và một số con đực trưởng thành tấm đệm má này không phát triển, ở con cái tấm đệm má rất nhỏ. Đười ươi có một túi ở phía dưới cổ rất lớn, chiếc túi này hỗ trợ cho tiếng kêu của chúng vang xa nhiều km.
Chúng có cánh tay rất dài với sải tay có thể đạt đến 2,2m. Cánh tay của đười ươi khỏe giúp chúng thích nghi với việc leo trèo trên cây, chuyền cành linh hoạt. Bàn tay và bàn chân có dạng giống như của con người, các ngón tay to. Ngón chân cái phát triển như ngón tay cái của con người, giúp đười ươi bám chặt các nhánh cây.
Đười ươi đực có cơ thể cao to, từ 1 – 1,5m nặng khoảng 90 – 100 kg trong khi đười ươi cái nhỏ hơn, chỉ cao tầm 1m và có trọng lượng khoảng 50 – 60 kg.
3. Phân bố tự nhiên
Loài đười ươi Borneo có phân bố ở đảo Borneo (thuộc Indonesia và Malaysia). Đây là động vật đặc hữu của nơi này.
Chúng sống trong các rừng mưa nhiệt đới vùng thấp với số lượng lớn cây dầu cổ thụ cao vút.
4. Sinh thái và tập tính
Đười ươi sống bán đơn độc. Con cái thường đi chung với con non của mình. Con đực trưởng thành thường sống một mình và bảo vệ lãnh thổ rộng từ 2–6 km. Chúng sử dụng tiếng kêu để giao tiếp, thông báo vị trí và xua đuổi đối thủ. Tiếng kêu có thể kéo dài khoảng 1 – 2 phút.
Đười ươi sống trên cây, chúng ít khi xuống dưới đất. Khoảng 90% thời gian cuộc đời của chúng là ở trên những tán cây cao. Ban đêm chúng ngủ trong những cái ổ làm bằng cành lá.
Đười ươi rất thông minh, chúng có thể tự học, ghi nhớ rất tốt, sáng tạo công cụ thô sơ trong quá trình sinh sống và tìm kiếm thức ăn.
Thức ăn của đười ươi là thực vật với hơn 60% là hoa quả. Ngoài ra còn ăn lá, vỏ cây, chồi non, côn trùng, mật hoa, nấm. Vào mùa khan hiếm thức ăn đôi khi chúng ăn có nguồn gốc động vật như trứng chim, côn trùng.
5. Sinh sản
Đười ươi là loài đa thê. Mùa sinh sản của loài này xảy ra quanh năm, tăng cao khi nguồn thức ăn dồi dào. Đười ươi mẹ mang thai khoảng 233 – 263 ngày, sinh mỗi lứa 1 con, rất hiếm khi sinh đôi. Đây là loài động vật có khoảng cách giữa các lần sinh dài trong lớp thú.
Con non theo mẹ đến khi cai sữa hoàn toàn 36 – 48 tháng. Trong khoảng thời gian này chúng sẽ được học cách sinh tồn. Khoảng 5 – 8 tuổi là thời gian đười ươi con có thể sống độc lập.
Đười ươi trưởng thành sinh dục vào khoảng 8 – 15 tuổi tùy theo giới tính.
6. Tuổi thọ
Trong điều kiện tự nhiên đười ươi sống trung bình khoảng 50 năm. Trong môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc tốt tuổi thọ có thể lên đến 59 tuổi.
7. Vai trò sinh thái
Đười ươi giúp phát tán các loại hạt cây lớn qua hệ tiêu hóa. Chúng cũng đóng vai trò kiểm soat sự phát triển của thực vật, tạo khoagnr trống trong rừng giúp tái sinh thảm thực vật.
8. Tình trạng bảo tồn
- Theo International Union for Conservation of Nature (IUCN): Cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered).
- Theo Công ước CITES: phụ lục I
Nguyên nhân của sự sụt giảm số lượng đười ươi:
- Mất môi trường sống do khai thác gỗ và đồn điền dầu cọ.
- Săn bắt trái phép.
- Số lượng bầy đàn giảm, giảm đa dạng di truyền.
- Kẻ thù tự nhiên
9. Thông tin tại Thảo Cầm Viên
Tại Thảo Cầm Viên hiện tại đang chăm sóc 1 cá thể đười ươi đực có tên là Tèo.