Cây gỗ ít khi cao quá 10-15m, với nhánh nhẵn. Lá có trục dài 15-25m; cuống lá 7-10cm. Lá chét 3-8 đôi, hình trái xoan, thuôn, 7-12 x 4-8cm, thường nhọn ở đầu, hình góc rộng ở gốc; cuống phụ 5-10mm. Cụm hoa thành chùm ở nách lá, thòng xuống, thưa hoa, dài 20-40cm. Hoa có cuống 15-35mm; lá đài xoan – bầu dục, 7-10mm, có lông nhung ở mặt ngoài, cánh hoa vàng, hình trái xoan, 30-35 x 10-15mm; nhị 3 cỡ (3 nhị dài, 4 nhị ngắn và 3 nhị tiêu giảm); bầu và vòi nhụy có lông. Quả đậu hình trụ, 20-60 x 1,5-2cm, màu đen; hạt nhiều, dẹp, hình bầu dục, màu nâu bóng.
Loài mọc tự nhiên ở Ấn Độ, Xri Lanca, Java, Xulavedi, được truyền bá từ lâu vào Trung Quốc và đến tận Ai Cập, nay trở thành liên nhiệt đới. Ở nước ta, có gặp ở Đắc Lắc.
Mọc trong các rừng hỗn giao rụng lá, ít khi gặp trong rừng thưa cây họ Dầu.
Gỗ cây được dùng làm cột; lõi rất giàu tanin. Vỏ cây và thịt quả dùng để ăn với trầu không. Lõi cây có thể dùng ăn với cá. Ở Campuchia, vỏ dùng giã đắp xát chỗ rắn cắn và bò cạp cắn. Ở Thái Lan, người ta dùng thịt quả làm thuốc nhuận tràng và long đờm; hoa dùng hạ nhiệt và nhuận tràng; gỗ dùng trị giun, nhất là giun đũa. Ở Ấn Độ, người ta dùng quả làm thuốc trị bệnh thấp khớp, trị rắn cắn; dịch lá chữa bệnh ngoài da. Ta thường dùng quả chữa táo bón và thông đại tiện. Lá, vỏ và rễ cây cũng được dùng như quả, chữa ăn uống kém tiêu, tay chân đau mỏi, táo bón hay bệnh lỵ mới phát. Ở Trung Quốc, vỏ thân, quả giáp với thịt quả được dùng làm thuốc; vỏ thân dùng trị đau răng, quả dùng trị nhiệt bệnh và trẻ con cam tích; quả giáp dùng trị bí đại tiện của người già.
Ra hoa 2 đợt: đợt 1 vào tháng 3, có quả từ tháng 7; đợt 2 vào tháng 12. Trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn, 14 cây được trồng rải rác trong khuôn viên và đều phát triển tốt. Khi cây ra hoa, sâu phát triển rất nhiều.