Cây gỗ cao 15-30m. Lá dài 15-25cm, với (9) 11-15 lá chét, dễ rụng; cuống lá 3-5cm và trục dài 10-12cm, không lông; lá chét, dạng giấy hoặc gần như dai, hình trứng thuôn đến hình trứng ngọn giáo, dài 4-8cm, rộng 1,5-3cm, tù đến nhọn, thường có gai mũi ở đầu, thành góc hoặc tròn ở gốc, không lông; gân bên 9-12 đôi; cuống phụ 3-4mm. Cụm hoa thành chùy ở ngọn hay gần ngọn, dài 10-15cm; lá bắc và lá bắc con dễ rụng; cuống hoa cỡ 1,5mm, có lông tơ. Hoa màu hoa cà sáng đến màu tim tím, dài đến 12mm, đài có ống 4-5mm, phần trên xẻ 5 răng mà răng dưới dài bằng ống; cánh cờ tròn, lõm, cỡ 7x7mm, có móng 2mm; cánh bên 7x3,5mm; cánh thìa 5x2,5-3mm; nhị 10, dính thành 2 bó; bầu 2-3 noãn, có lông nhung dọc các đường nối. Quả hình ngọn giáo, dài 9-14cm, rộng 2,5-4cm, không lông, màu nâu sáng, có vách dai, ở nơi có hạt thì dày và sẫm hơn; hạt 1-2, hình thận, cỡ 12,5x3mm màu nâu đo đỏ.
Loài của Mianma, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Ở nước ta, có gặp từ Quảng Trị vào đến Đaklak, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh.
Thường gặp trong rừng hỗn giao rụng lá, ở độ cao 100-700m, ít khi đến 1.000m.
Cây cho gỗ quý, dùng để đóng các đồ gỗ như tủ, bàn ghế, các hàng mỹ nghệ như tranh, tượng, lọ hoa, … Có nhiều thứ phân biệt bởi màu sắc của gỗ, vàng hồng có vân nâu, đỏ có vân đen, tím có vân vàng,…
Lá có 2 mặt: mặt trên xanh mốc, mặt dưới lá màu bạc. Cây thu mẫu mang mã số 528 cao gần 30m, đã nhiều lần ra hoa kết quả, có quả tháng 5-10. Còn các cây có mã số 579 (cao 21m) và 583 (cao 15m) thì chưa thấy ra hoa kết quả.