Cây gỗ kích thước trung bình 8-25 m; vỏ nhám. Lá gần nhẵn, 3-5 cặp lá chét đối nhau, 2-3 lần xẻ lông chim, dài 0,6-1m; lá chét hình elip, hình xoan hay trái xoan ngọn giáo, 2-7 x 1,5-3,3 cm; đỉnh nhọn; mép gợn sóng hay khía tai bèo đến nguyên; mặt dưới lá có các lông thưa nằm dọc theo gân. Hoa dạng xim, dài 10-35 cm, phủ đầy lông. Đài dài 2-4 mm; các thùy ngắn, mép cuốn ra phía ngoài. Tràng hoa hình phễu, 5,5-8 x 0,2 cm, bên trong có phủ lông măng các tuyến; miệng phễu có đường kính 3-5 cm; thùy trái xoan, nhọn. Quả 28-36 x 1,4-1,8 cm. Hạt 1,4-3,5 x 1-1,5 cm.
Phân bố ở Mianma, Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, thường được trồng trên đường phố ở Ấn Độ và vùng Mã Lai. Có khi thuần hóa ở miền khô của các vùng này. Ở nước ta, chỉ gặp tại các tỉnh phía nam như Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Thuận, Tp. HCM, An Giang
Cây mọc trong rừng rậm rụng lá, ở ven suối ẩm, nơi có độ cao không quá 500-600m. Tái sinh bằng hạt.
Cây được trồng làm cảnh ở nhiều nước. Gỗ có thể dùng đóng đồ đạc. Vỏ thân và gỗ dùng trong y học dân gian làm thuốc trị ghẻ. Ở Indonesia, vỏ được dùng làm thuốc hạ sốt. Hoa có mùi thơm rất dễ chịu, dùng trộn với thuốc lào để ướp hương cho có mùi thuốc phiện. Ở Thái Lan, người ta dùng hoa khô làm thuốc dãn phế quản; rễ được dùng bổ phổi và dãn phế quản.
Cây càng già thì các vết nứt trên vỏ thân càng không rõ. Thảo Cầm Viên Sài Gòn hiện đang chăm sóc 3 cây với các mã số: 1196, 1337 và 1341. Cây thu mẫu có mã số 1341 cao khoảng 4m và cây mang mã số 1196 cao khoảng 10m đã ra hoa nhiều năm nhưng chưa thấy quả. Cây ra hoa tháng 2, nở vào lúc hửng sáng, mùi thơm dễ chịu.