Đặc điểm: Thân gỗ lớn, cao đến 20-30 m, đường kính có thể đạt 0.9 m hoặc hơn nữa. Tán cây hình ô, cành non có lông mịn, cành già nhẵn. Vỏ màu nâu xám, dày trung bình 1,5 - 2 cm, nứt dọc, bong vảy lớn, thịt vỏ màu hơi vàng, khi vạc vỏ chảy nhựa màu đỏ tươi. Lá kép lông chim một lần lẻ, mọc cách, mang 7-13 lá chét xếp so le. Hoa màu vàng, mọc thành chùm ở nách lá. Mỗi chùm hoa dài 7-10 cm, mang 20-25 hoa. Quả hình tròn dẹt, đường kính 4,5- cm. Khoang cứng nổi lên ở giữa, chứa 1-3 hạt. Hạt hình lưỡi liềm, khi chín có màu nâu, dài 0,6-01 cm, rộng 0,3 – 0,5cm
Phân bố: Ở Việt Nam cây Giáng hương cũng phân bố trong hai kiểu rừng là rừng khộp và rừng bán thường xanh, ở các tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ như Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Đồng Nai, Tây Ninh. Thường thấy ở những nơi có độ cao so với mực nước biển từ 20 m đến 680 m, tập trung ở những nơi có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc 2-100, nhiệt độ trung bình năm 21-26,5°C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 36-42°C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 1,7-15,0°C, nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất 29,7-35°C, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất 10,6-20,9°C. Mọc trên nhiều loại đất như đất xám, đất đỏ bazan, chịu được điều kiện đất khô xấu thích hợp với những vùng có khí hậu chia thành 2 mùa mưa và khô rõ rệt.
Thế giới: Lào, Campuchia
Giá trị sử dụng: Gỗ Giáng hương nặng trung bình, thuộc loại gỗ quý, dùng được trong xây dựng, đóng đồ dùng cao cấp, bàn ghế, đồ mỹ nghệ đều có giá trị cao hơn so với những loại gỗ thông thường khác. Ngoài ra, gỗ Giáng hương còn dùng để đóng đồ nội thất như giường, tủ, bàn ghế và sàn gỗ tự nhiên. Không dừng lại ở đấy, vỏ của Cây Giáng hương có chứa tanin và nhựa của loài cây này có màu đó còn có thể dùng để nhuộm quần áo.