Cây gỗ trung bình, cao 15-18m, đường kính 25-30cm; vỏ màu nâu đen nứt nông, dễ bóc. Lá đơn, mọc so le; phiến lá xoan bầu dục hay hình trứng – ngọn giáo, dài 5,5-8,5 (-10)cm, rộng 2,5-4,5cm, không lông; gân bên 7-8 đôi; cuống lá có lông, dài cỡ 1cm. Cụm hoa xim 3-1 hoa đơn tính, màu vàng vàng. Hoa đực có 4 lá đài, tràng hình lục lạc với 4 cánh hoa; nhị 16-24, thường xếp 2 vòng. Hoa cái mọc đơn độc ở nách lá, to hơn hoa đực, có đài hình chén, tràng thuôn dài, 8 nhị thoái hóa và bầu thượng 8 ô. Quả mọng gần tròn, to 1-2cm, màu xanh bóng, khi già màu đen, mang đài xẻ 4 thùy cong xuống.
Phân bố ở Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan, mọc hoang và cũng được trồng ở nhiều nơi. Sách Cây gỗ rừng Việt Nam ghi là Mun phân bố rải rác trên núi đá vôi ở các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Hòa Bình, Tuyên Quang, Lạng Sơn… số lượng cá thể còn lại rất ít trên miền Bắc. Còn ở miền Nam, có gặp tại Khánh Hòa, Ninh Thuận và được trồng nhiều ở An Giang (Châu Đốc) và Kiên Giang (Kiên Hải).
Thường gặp trên các đỉnh núi và các đồi đá phiến ở độ cao dưới 700m. Cây ưa sáng, mọc chậm, sống lâu, có khả năng tái sinh hạt nhưng rất hiếm gặp cây con.
Gỗ rất cứng, nặng; dác dày màu xám nhạt, lõi màu đen, thuộc loại gỗ quý, khó làm; thường dùng đóng đồ mỹ nghệ, làm đũa. Quả và lá làm thuốc nhuộm đen, nhất là để nhuộm lãnh thứ quý. Vỏ cây được dùng làm men rượu. Quả không độc, nhưng do có chất diospyro-quinon có tác dụng diệt giun, có tính kháng sinh yếu, quả được dùng làm một số chế phẩm trị sán xơ mít, cũng có thể lấy hạt tươi giã nát, cho thêm vào nước dừa, lọc lấy nước cốt uống. Ở Thái Lan, người ta còn dùng quả xanh làm thuốc trị giun móc.
Đề nghị khoanh khu rừng xã Cam Thạnh Đông, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa làm khu bảo vệ nguồn gen. Thu mẫu vào tháng 10. Cây thu mẫu rất ít quả, hoa ít, khó phát hiện nên chưa thu được mẫu hoa. Thảo Cầm Viên Sài Gòn đang chăm sóc 5 cây, mang các mã số: 1494 và 1561 (cao 11m), 1563 (9m), 1737 (7m) và 1985 (khoảng 6m). Chỉ có 2 cây cao 11m là đã ra quả. Quả rụng nhanh thối phần thịt quả bên trong.