Cây gỗ to; nhánh non có nhiều lông màu hung vàng. Lá mọc so le, phiến lá hình bầu dục thon, dài 4-9cm, rộng 2-4,5cm, gốc tròn hay nhọn, đầu nhọn; mặt trên không lông, mặt dưới có lông ở gân giữa, gân bên 6 đôi; cuống lá dài 6-9mm, có lông. Hoa đực thành xim có cuống; đài có lông hung, nhị 16. Hoa cái thành xim có đầy lông màu vàng. Quả gần hình cầu, có khi dẹp ở đỉnh, đường kính 3-5 (7)cm, màu vàng, đài mang quả có 4 chùy, có lông ở cả 2 mặt, có mép cuộn ra ngoài, hạt cứng, dài 3cm, có nội nhũ sừng, không nhân.
Cây đặc hữu của miền Đông Dương, được trồng nhiều ở Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam.
Cây mọc hoang trên đất hơi ẩm của vùng đồi núi. Lá rụng vào tháng 4.
Cũng được trồng trong các vườn và quanh các chùa, vì dáng cây đẹp lại có quả rất thơm. Thịt quả màu vàng nhạt, có thể dùng ăn; cũng được dùng làm thuốc trấn an và trị giun sán ở trẻ em. Vỏ quả thị dùng trị những chỗ rộp da do con giời leo. Lá dùng đắp ngoài trị mụn nhọt, vết thương, vết bỏng lửa; lại dùng thông hơi, gây trung tiện. Vỏ rễ được dùng trị nôn ói, trẻ em đầu mình nóng, lở ngứa, sâu quảng. Ở Campuchia, người ta dùng quả thị để trị bệnh mất ngủ và dùng chế thuốc điều kinh.
Cây thu mẫu cao 14m, ra hoa kết quả quanh năm, nhưng số lượng trái trưởng thành khá ít so với trong tự nhiên. Thảo Cầm Viên Sài Gòn đang chăm sóc 5 cây, mang các mã số: 1139 (cao 18m), 1143, 1320 (11m), 1605 (12m) và 1607 (hơn 8m). Chỉ có cây 1607 là chưa từng thấy ra hoa.