Cây nhỡ có nhánh có khi có gai. Lá nguyên, hình bầu dục hay xoan ngược, dài 10-20cm, dày, dạng màng, khá dai, rất nhẵn ở mặt trên, có lông mềm nhiều hay ít ở mặt dưới, tròn ở gốc, thót lại dần dần và có mũi cứng rõ hay không; cuống lá ngắn, dài 0,6-1,2 cm, có lông hay nhẵn. Hoa xếp thành cụm 3-5 cái ở nách lá. Quả hạch dạng bầu dục hay dạng trứng, hơi hẹp, dài 15-20 mm, có cạnh lồi khi khô, bao bởi các thùy của đài, màu tím rượu vang, nạc, thơm.
Thế giới: Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam
Việt Nam: Lạng Sơn, Phú Thọ, Ninh Bình tới Khánh Hòa, Đồng Nai
Cây mọc trên núi đá vôi, trong rừng.
Gỗ tốt và dai. Quả ăn được, có vị chua và chát. Ở Ấn Độ, vỏ rễ dùng trị sốt và bệnh ngoài da, cũng dùng làm thuốc chống nôn mửa. Ở Thái Lan, vỏ thân dùng trị hen suyễn và trị ỉa chảy; gỗ được xem là bổ, dùng trị bệnh trĩ; quả dùng làm thuốc lợi trung tiện và trừ giun. Ở Campuchia, vỏ và rễ được dùng làm thuốc trừ giun, gây xổ, lợi tiểu, dùng chữa phong cùi, giang mai và chống các loại độc.
Cây thu mẫu có nhánh không gai. Cuống lá lúc non có lông, sau nhẵn. Mùa hoa tháng 1-2, mùa quả tháng 3-4. Cây rụng lá trước khi ra hoa. Hoa 5 cánh màu trắng, thơm, dòn, dễ gãy, cong ngược ra phía ngoài để lộ rõ bộ nhị. Nhị 10, màu trắng. Cây cao khoảng 11m, đã ra hoa, kết quả nhiều năm, được trồng gần Hội trường TCVSG.
TCVSG đang chăm sóc 5 cây với các mã số: 964, 1006, 1092, 1116 và 1158.