Cây gỗ thường xanh, cao đến 30m; vỏ màu nâu xám hay hơi trắng, nhẵn, cành mọc cong queo, tán thưa; lõi xốp, trắng. Lá hình trứng thuôn hay bầu dục, dài 7-11,5 cm, rộng 2,5-5 cm, đầu nhọn đến có mũi nhọn 6-10 mm, gốc hình nêm đến nhọn, mép nguyên, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn, nhẵn 2 mặt hay có lông thưa dọc mép và gân chính; gân bên 12-18 đôi, dễ thấy ở cả 2 mặt; cuống lá đầy lông, dài 3-7 mm. Cụm hoa hình tán ở nách lá gần ngọn, 4-6 hoa; cuống cụm hoa có lông, dài 3-5 mm. Hoa nhỏ, màu hơi xanh; cuống dài 5-10 mm. Đài hình chuông nông, với 5 thùy, thùy 3-4 x 2-3,5 mm, phủ lông cả trong và ngoài. Cánh hoa 10, rậm lông, dài 1-1,5 mm. Nhị 10, chỉ nhị dài 1-1,5 mm; bao phấn dài 1mm. Bầu 2 ô, mỗi ô chứa 1 noãn, noãn đầy lông, dài 2-3 mm, vòi không phân biệt; đầu nhụy hình đầu hay thuôn ngược, dài 1mm, ở gốc bầu có tuyến mật. Quả nang hình trứng ngược, 2,5-3,5 x 2-2,5 cm, có lông mềm ngắn, màu vàng xám, mang đài tồn tại, nứt làm 2 mảnh. Hạt chín màu nâu đen, 10x5 mm.
Phân bố ở Thái Lan, Campuchia, Trung và Nam Việt Nam. Ở nước ta có gặp từ Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Khánh Hòa, Bình Thuận vào đến Kiên Giang (đảo Phú Quốc).
Cây mọc rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm nguyên sinh ở độ cao 500-1.000m trên sườn núi, ít dốc và thoát nước, không bao giờ mọc thuần loại mà mọc hỗn giao với các loài cây lá rộng khác. Tái sinh bằng hạt; cây con thường chủ yếu gặp nơi có ánh sáng trong rừng hay ven rừng.
Từ gỗ có thể lấy được trầm có mùi thơm và có giá trị cao, được dùng làm hương liệu trong công nghiệp mỹ phẩm. Trầm này có thể hình thành ở cây tươi đang sống hoặc cây đã chết từ lâu. Trầm còn dùng làm thuốc trị nôn mửa, đau bụng, hen suyễn. Lá và cây con được dùng làm thuốc chữa ho, đau mắt. Gỗ màu vàng nhạt, mềm và nhẹ, kém chịu mối mọt và mục nên ít được sử dụng. Vỏ cây có nhiều sợi dai, có thể làm sợi hoặc giấy đặc biệt.